Kỹ năng Phỏng vấn tuyển dụng

Tuyển dụng bao gồm hai quá trình cơ bản chính yếu: (1) Tuyển – bao gồm thu hút và sàng lọc và (2) Dụng – bao gổm bố trí và sử dụng.

Trong quá trình sàng lọc, phỏng vấn là một hoạt động giúp cho người tuyển dụng cũng như người ứng tuyển có thể trình bày và tìm hiểu thông tin một cách chi tiết và chính xác nhất. Nếu quá trình này thất bại có thể dẫn đến tình huống là người tuyển dụng sẽ mất nhân tài hoặc người ứng tuyển sẽ mất thời gian cho một nơi làm việc không phù hợp với định hướng phát triển nghề nghiệp của cá nhân.

Hiện nay, kỹ thuật phỏng vấn hành vi được áp dụng khá phổ biện ở các tổ chức. Có nhiều mô hình trong phỏng vấn hành vi như: (1) CAR – Challenge/ Action/ Result (2) SCAR – Situation/ Challenge/Action/Result (3) STAR – Situation/ Task/ Action/ Result hoặc (4) SPAR – Situation/ Problem/ Action/ REsult.

Đính kèm bài viết là một số tài liệu liên quan đến Kỹ năng phỏng vấn tuyển dụng và ứng tuyển (dành cho cà hai đối tượng là ứng viên và nhà tuyển dụng). Các tài liệu sẽ tiếp tục được cập nhật khi có thêm những tài liệu mới và hữu ích. [Ngày cập nhật tài liệu mới nhất 25.12.2021].

Thẻ Điểm cân bằng Cá nhân

Quản trị cuộc đời đó chính là quản trị mục tiêu cuộc đời của mỗi một cá nhân. Mục tiêu sẽ được thiết lập/ xây dựng từ mục đích/ mong muốn của mỗi người. Tuy nhiên làm sao có thể đảm bảo các mục tiêu cá nhân thiết lập là đầy đủ và cân bằng? Đây cũng là một câu hỏi mà nhiều người trong chúng ta đã hoặc đang tự hỏi.

Quyền sách “Thẻ điểm cân bằng cá nhân” được phát triển từ mô hình BSC – Balanced Scorecard – Thẻ điểm cân bằng với bốn khía cạnh đo lường việc thực thi chiến lược trong doanh nghiệp: (1) Tài chính (2) Khách hàng (3) Quá trình nội bộ và (4) Học hỏi – Phát triển. Mô hình này đã được nhiều doanh nghiệp áp dụng và phát triển cụ thể thành hệ thống KPI – Key Performance Indicators để đánh giá kết quả làm việc của mỗi nhân viên.

Với mô hình BSC, Thẻ điểm cân bằng cá nhân được phát triển để giúp cho mỗi cá nhân chúng ta có thể tự thiết lập những mục tiêu nhằm hướng đến việc đạt được sứ mạng cũng như điểm cân bằng trong cuộc đời của mỗi người.

Bốn khía cạnh, cụ thể:

(1) Yếu tố tài chính: Sự ổn định về mặt tài chính. Bạn có thể đáp ứng các nhu cầu về tài chính đến mức nào?

(2) Yếu tố khách quan: quan hệ với gia đình, bạn bè, cấp trên, đồng nghiệp và những người khác. Họ nhìn nhận về bạn như thế nào?

(3) Yếu tố nội tại: sự khỏe mạnh về thể chất và tinh thần của bạn. Bằng cách nào bạn có thể kiểm soát những yếu tố này để tạo ra giá trị cho bản thân và cho mọi người? Bằng cách nào bạn có thể cảm thấy thoải mái trong công việc cũng như trong thời gian rãnh?

(4) Kiến thức và việc học tập: các kỹ năng và khả năng học hỏi. Bạn học hỏi và tiếp tục thành công trong tương lai bằng cách nào.

Đối với cá nhân tôi, với những thông tin trong quyển sách đã giúp bản thân định hướng rõ ràng hơn trong cuộc sống. Các bạn có thể đọc thử và mua sách để có những trải ngiệm tốt nhất. Đọc sách thật sự sẽ có ý nghĩa nếu như chúng ta có thể chuyển đổi thành hành vi cá nhân.

Chất lượng dịch vụ [Hospitality]

Từ khi hình thành thì chất lượng được xem là một khía cạnh quan trọng mà bất kỳ một doanh nghiệp, một tổ chức kinh doanh nào muốn tồn tại và phát triển phải chú ý đến – trong đó có quản trị chất lượng dịch vụ. Những người tiên phong đi đầu trong lĩnh vực chất lượng như EDwards Deming rồi đến Feigenbaum, Juran, Ishikawa, Crosby, Parasuraman,… trong thời gian đó quản trị chất lượng nói chung và quản trị chất lượng dịch vụ nói riêng đã có một thời hoàng kim phát triển rực rỡ trong những giai đoạn đầu. Và về sau này thì từ những khái niệm sơ khai đó, các nhà quản trị chất lượng dịch vụ đã phát triển thêm nhiều khía cạnh, góc nhìn khác mà cốt lõi vẫn là những tinh hoa của một thời kỳ đã qua.

Song song với sự phát triển rực rỡ này, các ngành khác trong thời kỳ đó cũng có
những biến chuyển mạnh mẽ và rõ rệt, từ thương mại, vận tải, y tế, giáo dục,… và đặc biệt là ngành khách sạn. Chất lượng dịch vụ phục vụ khách được coi là cực kỳ quan trọng trong việc cung cấp lợi thế cạnh tranh trong ngành, vì thế không quá khó hiểu khi ngành khách sạn là một trong những ngành có những chuyển biến quan trọng song hành trong suốt thời kỳ phát triển của ngành quản trị chất lượng dịch vụ.

Chất lượng dịch vụ có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hài lòng của khách hàng và ảnh hưởng gián tiếp đến lòng trung thành của khách hàng (Al Khattab và Aldehayyat, 2011). Nhiều thang đo và chỉ số khác nhau để đo lường chất lượng dịch vụ như mô hình Chất lượng kỹ thuật và chức năng (Gronroos, 1984), SERVQUAL (Parasuraman và cộng sự, 1985, 1988), Mô hình tổng hợp chất lượng dịch vụ (Brogowicz và cộng sự, 1990); SERVPERF (Cronin & Taylor, 1992), Antecedents và mô hình hòa giải (Dabholkar và cộng sự, 2000) đã được phát triển và sử dụng rộng rãi bởi các học giả và các nhà thực hành. Trong số đó, SERVQUAL thường được coi là ứng dụng phổ biến nhất trong nhiều nghiên cứu thực nghiệm trên các ngành dịch vụ khác nhau và ở nhiều quốc gia. Và mô hình này cũng được xem là nền tảng cơ bản cho các phát triển của những mô hình sau này trong ngành khách sạn. Từ những tiến bộ trên thì các nhà quản trị chất lượng dịch vụ ngành khách sạn cũng dần nhận ra mục tiêu chính của quản trị chất lượng dịch vụ chính là làm hài lòng khách hàng.

[Nguyễn Trọng Khang – K44 – Chuyên ngành Quản trị chất lượng]

Đính kèm bài viết là một số bài đọc, bài nghiên cứu về chất lượng dịch vụ, đo lường chất lượng dịch vụ trong lĩnh vực khách sạn nói riêng và ngành Du lịch – Nhà hàng – Khách sạn (Hospitality) nói chúng. Các tài liệu sẽ tiếp tục cập nhật khi có những nghiên cứu mới. Ngày cập nhật mới nhất (04.12.2021)